Nguyễn Quang Thiều: “ Tôi chơi với cháu và viết cho các cháu ”

In: Sách

-Khi từ chối nhận giải cho cuốn “Chuyện của ký ức và anh Kya”, bạn nghĩ gì?

– Lúc đầu tôi cũng có ý tưởng, nhưng ban tổ chức vẫn nghĩ đó là một cuốn sách cần thiết. với niềm vui. Cuốn sách này đã đạt điểm cao nhất trong vòng sơ khảo, với 100% cử tri đi bỏ phiếu. Tôi rất vui và hy vọng sẽ đoạt giải, nhưng với tư cách là thành viên Ban giám khảo, tôi đành phải từ chối. Tôi sợ rằng nhiều người không hiểu và không thông cảm với câu chuyện tôi viết, họ sẽ thấy bất công. Ở Việt Nam, có nhiều giải thưởng khiến ban giám khảo thắc mắc, mất giá và thiếu tính thuyết phục, vì ban giám khảo đã nhận giải.

Điều này càng khiến tôi vui vì tác phẩm của mình được độc giả đón nhận. Nhà xuất bản cho biết anh ta có kế hoạch biên tập lại.

“Ký ức và Câu chuyện về Anh Kya”. Ảnh: NXB Trẻ .

– Hoạt động sáng tác của thiếu nhi diễn ra như thế nào?

– Tôi tiếp tục viết một loạt sách, luôn kể về câu chuyện của Mem và Kya, nhưng đó sẽ là một thế giới khác, một môi trường khác và một hướng đi mới.

Ngày nào tôi cũng dành nhiều thời gian chơi với hai con, vì lớn tuổi, dễ quên nên tôi phải quan sát, lắng nghe và ghi chép. Chúng chưa biết nói nhưng tôi biết chúng muốn truyền đạt điều gì đó bằng cách khóc, ậm ừ, cầm đồ chơi… Ví dụ, con bạn có những cử động đặc biệt có thể làm lành ông bà hoặc đồ vật. Chơi như thế nào, lao vào điều quan trọng nhất khi chơi ở sân chơi yêu thích của họ. Những khám phá này quan trọng đến mức chúng giúp chúng ta hiểu được thế giới của trẻ thơ, tìm cách đọc sách và tìm thấy những điều đẹp đẽ. Thư được đính kèm với tác phẩm. Vì vậy, khi đọc, người đọc không thấy dáng dấp của một ông già đang viết sách mà giống như một đứa trẻ đang kể một câu chuyện có thật.

Nhiều đứa trẻ được bố mẹ đưa đến nhà tôi vì hợp khẩu vị. Me Mem và Kya trong sách. Một số trẻ em thậm chí còn học thuộc các chương từ sách. Rõ ràng, phải có một sự đồng cảm nhất định về ngôn ngữ, suy nghĩ, sự tò mò và óc quan sát để ghi nhớ đoạn văn này. Nguyễn Quang Thiều sinh năm 1957 tại Hà Nội. Ông đã giành được hơn 20 giải thưởng văn học trong nước và quốc tế, trong đó có Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (1993) cho tập thơ “Mất ngủ”. Ngoài ra, ông còn là tác giả của nhiều vở kịch và kịch bản phim cùng hơn 500 bài báo. Ông hiện là phó chủ tịch hội nhà văn Việt Nam. Ảnh: Hòa Nguyễn .

– Làm thế nào để thực hiện các tác phẩm mới liên quan?

– Tôi vào Internet, mạng xã hội, xem con cháu tìm hiểu thế giới trẻ thơ. Vì vậy, tôi dần thay đổi hiểu biết của mình về xã hội, tự nhiên và thế giới.

Tôi đã xuất bản cuốn sách dành cho trẻ em đầu tiên có tên “Bí mật về Thủy cung Kỳ diệu của Con gái tôi”. Cô ấy hỏi tôi tại sao anh ấy không viết những gì anh ấy nói với cô ấy trong cuốn sách. Cuốn sách này chứa đựng nhiều câu hỏi về quá khứ và cuộc kháng chiến mà tôi gặp phải khi còn nhỏ. Giờ đây, đã hơn 50 năm trôi qua, tuổi thơ của những đứa trẻ ngày nay có nhiều khác biệt. Vì vậy, tôi đã phải thay đổi.

Viết truyện cho thiếu nhi là để sống lại tuổi thơ của mình, giúp tâm hồn mình trong sáng hơn, bớt cơ hội đời thường. Từ nay đến cuối đời, tôi dành phần lớn thời gian để viết sách cho con, cháu và cháu.

– Bạn nghĩ gì về văn học thiếu nhi Việt Nam ngày nay?

– Văn học thiếu nhi Việt Nam nhiều năm trắng tay. Nguyên nhân là do chúng ta chưa nhận thức được hết tầm quan trọng của nó, và thật sự khó nếu không có sự đầu tư đúng mức và mang lại niềm vui cho trẻ. Ngoài ra, trẻ em ngày nay có nhiều cách giải trí và học tập nên sách thiếu nhi cần phải hiện đại, hấp dẫn, nhanh và sâu rộng hơn. Mặc dù có nhiều cuốn sách xa rời thiên nhiên, nhưng chúng thường là những tác phẩm văn học có ý nghĩa đạo đức và buồn tẻ, vô vị.

Hàng năm vẫn có rất nhiều sách in cho thiếu nhi, nhưng trong đó có rất nhiều sách văn học. ngoại quốc. Tất nhiên, sách nước ngoài cũng mang tính giáo dục và hướng đến trẻ em. Tuy nhiên, nếu một đứa trẻ muốn lớn lên trở thành một người tốt trong nền văn hóa của mình, chúng phải được hướng dẫn để hiểu về dân tộc, văn hóa, truyền thống và tư tưởng Việt Nam. Tại Hội Nhà văn Việt Nam, các kỹ năng và đề xuất khác có thể thay đổi, nhưng chúng tôi luôn giữ Bộ môn Văn học thiếu nhi vì đây là lĩnh vực rất quan trọng trong giáo dục trẻ em.

– Bạn nghĩ gì về các nhà văn thiếu nhi ngày nay?

– Đội ngũ nhà văn thiếu nhi hiện nay của chúng ta rất yếu. Thậm chí chúng ta có thể đếm trên đầu ngón tay tác giả thường xuyên viết Nguyễn Nhật Ánh sưu tầm xem là một tình huống bị cô lập. Ngoài ra, hầu hết các nhà văn thiếu nhi đều đã lớn tuổi, và chúng tôi đang mong đợi một thế hệ mới, trẻ hơn và sáng tạo hơn.

Tôi khuyến khích các nhà văn dành một phần tư thời gian của họ. Dành thời gian để viết cho trẻ em. Không cần chủ đề gì to tát, chỉ cần viết về con, cháu, cháu của mình chan chứa nghĩa tình, chân thành.

Nhà văn Nguyễn Quang Thiều (phải) nói về tác phẩm thiếu nhi của cùng một gia đình nhà văn Nguyễn Nhật Ánh (cầm micro), nhà thơ Trần Đăng Khoa (mặc áo đen) và nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên ngày 29/9. trong. Nhiếp ảnh: Hòa Nguyễn .

Hiểu Nhân

‘Gen’-một cuốn sách về tương lai của di truyền học

In: Sách

Bản dịch tiếng Việt của cuốn sách vừa đoạt giải C Sách Quốc gia 2020 do Hội Xuất bản Việt Nam tổ chức. Tác phẩm này có tham vọng kể câu chuyện đầy đủ về di truyền học, có từ những cuốn tiểu thuyết được tạo ra bởi những thành tựu khoa học mới ngay từ đầu. Nhưng đây không chỉ là câu chuyện của gen, mà còn là bản chất sáng tạo của sự sống – từ đơn vị nhỏ nhất đến toàn bộ mạng lưới quy mô lớn, tất cả chúng ta đều mong muốn hiểu và thậm chí làm chủ. – Bìa cuốn sách “Gen: Lịch sử loài người và tương lai”. Nhiếp ảnh: Omega. Cái gốc không chỉ là niềm đam mê trong ống nghiệm của các nhà khoa học, mà còn là lịch sử và vận mệnh của loài người. Tác giả Siddhartha Mukherjee viết trong lời tựa: “Các gen đã được lan truyền trong các bài diễn văn liên quan đến chủng tộc, phân biệt chủng tộc và ‘trí thông minh chủng tộc’ ‘, cung cấp câu trả lời đáng ngạc nhiên cho một số câu hỏi liên quan. Các vấn đề quan trọng nhất nảy sinh trong tất cả các lĩnh vực chính trị và văn hóa của chúng ta, giúp tổ chức lại sự hiểu biết của chúng ta về giới tính, bản sắc và sự lựa chọn, và do đó nghiên cứu điểm giữa của một số vấn đề cấp bách nhất trong thế giới cá nhân của mỗi chúng ta. “

Với kiến ​​thức phong phú, tác phẩm này được trình bày như một cuốn tiểu thuyết phiêu lưu. Trong số đó, mỗi nhà khoa học đều là thám tử, lừa độc giả khám phá vấn đề bí ẩn của ‘gen’. Cuốn sách này bắt đầu với Darwin, ông đã có một hành trình 5 năm để khám phá Nam Mỹ và trải nghiệm các quần thể động vật khác nhau. Ông có những ý tưởng gây sốc về sự tiến hóa. Sau đó, có Gregor Mendel-nhà sư đã làm việc chăm chỉ để nuôi dưỡng hàng ngàn cây họ đậu và xây dựng công thức khiến ông trở thành “cha đẻ của di truyền học hiện đại.” Cuốn sách liên quan đến ý nghĩa lịch sử. Căn nguyên của Thảm sát Đức Quốc xã ở Trung Quốc là “thuyết ưu sinh”, tức là người ta tin rằng quyền tồn tại và ngã xuống chỉ là quyền ưu tiên của màu sắc – đôi khi tác giả cho phép độc giả kiểm tra kỹ lưỡng phòng thí nghiệm ruồi giấm hoặc DNA tái tổ hợp để biết thông tin khoa học thú vị-rất Thật khó hiểu, vì vậy động lực lịch sử đến từ những khám phá mới trong di truyền học … Văn phong duyên dáng và hài hước dẫn dắt độc giả qua hơn 800 cuốn sách. Lịch sử gen kết thúc với cuốn sách mới nhất của nhân loại. Thành tựu: Phương pháp giúp chỉnh sửa và sửa đổi bộ gen người Tác phẩm kết thúc với câu hỏi sau: Nếu tất cả sự thể hiện bản thân đều xuất phát từ gen của chúng ta và sự thay đổi tùy ý, liệu chúng ta có quyền (và quyền lực) trở thành người sáng tạo của chính mình – cánh cửa nào sẽ mở ra và đóng lại cho con người. -Tam Kỳ

Dây (ràng buộc bài thơ)

In: Sách

Bảo Hiếu-Sợi dây-Những ngón tay gầy guộc của anh vươn lên bầu trời ánh sáng huyền ảo diệu kỳ… Một sợi dây không nối hết bao kỉ niệm ngày đầu đến muôn nơi… Một sợi dây không thể kìm hãm nỗi hoang mang của ngày mai là giấc mơ. .. Sợi dây dệt từ những giấc mơ xa vời vợi như lâu đài xây bằng cát giữa biển, nhưng rồi cũng tan theo sóng tới … Em tha thiết dệt mộng thành dây, ngày đêm, sẽ Bạn kết nối với trái đất …——

Có nhiều ngày

Đôi khi tôi chợt rơi nước mắt, khi nhìn thấy gương mặt trong gương, người khác nhìn mình mà không cầm được nước mắt. Sợ hãi … không bối rối, chỉ tiếc rằng dấu vân tay xuất hiện ngày này qua ngày khác và làm việc chăm chỉ cho hy vọng … những người khác …—— Mùa thu

(VA cho em)

Anh đã rơi vào một ngày không có em , Một ngày không mưa, một ngày không ai, trên phố dài không biết không nhớ dấu vân tay … Em vẫn còn sống, sao yếu đuối thế này? Em không như vậy … một ngày, hai ngày, ba ngày … bao ngày em bước đi lặng lẽ … Em sống sâu trong kí ức anh, chôn chặt dưới bức tường xây trọn đời. Rồi nó tràn ngập hy vọng … một ngày, hai ngày, ba ngày … Tôi ngồi đó như cái đồng hồ, suy nghĩ vài giây rồi thấy mình khó gục ngã trước cơn đau lạnh buốt, để nỗi đau không còn ập đến. Lấy tình anh ngày dài em thương mình … không nụ cười, không yêu thương, chờ ngày mai tựa băng ghế sa ngã, khi ngã … một ngày … hai ngày … ba ngày …!

Văn học Trực tuyến – một cơ hội tuyệt vời cho các nhà văn

In: Sách

Hà Linh

– Hội nghị do Tạp chí Văn hóa Văn nghệ và Công ty Sách Bách Việt phối hợp tổ chức Diễn giả: nhà phê bình Nguyễn Chí Hoan, nhà nghiên cứu Đặng Thân, nhà văn Phong Điệp, Cấn Vân Khánh …— Mặc dù được sử dụng rộng rãi , Nhưng ngay cả người dùng cũng đặt câu hỏi về tính đúng đắn của khái niệm “văn học Internet”. Nhà phê bình Ruan Zhihuan cho rằng: “Văn học không có thực thể nào khác ngoài văn học, vì vậy không thể nói rằng có sự khác biệt giữa văn học trên mạng (xuất bản và xuất bản lần đầu, hoặc chỉ phổ biến), cũng khó nói về văn học ngoài đời”. “Văn học Internet” …

Khó khăn mà Nguyễn Zhihuan chỉ ra một phần là do tính mới, chưa mang lại nhiều kết quả. Bước đột phá của văn học Internet Việt Nam So với lịch sử phát triển 10 năm của Trung Quốc, phong trào sáng tác và xuất bản trực tuyến mới bắt đầu ở Việt Nam Phát triển, tác giả Lê Anh Hoài nhận xét: “Văn học mạng Việt Nam còn quá mạnh. “Các nhà văn Việt Nam chủ yếu xuất bản các tác phẩm cũ của họ nhằm tìm tòi một cách làm việc mới để thu hút khán giả.

Nhà văn Cấn Vân Khánh và Phong Điệp tại hội thảo nhiếp ảnh: Blog Cấn Vân Khánh.

Nhà văn Cấn Vân Khánh thẳng thắn chia sẻ: “Tôi hy vọng sẽ tìm được nhiều độc giả hơn khi đăng tin trên blog của mình. “Làm việc, đi con đường này. Mặt khác, từ blog đến việc xuất bản sách in, như tác phẩm của Hà Kin, Trần Thu Trang … Nó đã gây ảnh hưởng mạnh mẽ trong cộng đồng mạng, nhưng giữa những ồn ào, ồn ào của họ. Tác phẩm bị mắc kẹt trong khả năng chuyển đổi nhanh chóng mọi thông tin trong quá khứ của Internet. Internet vẫn chưa có “cơ hội làm bà đỡ” để nuôi dạy những đứa con tinh thần thông minh, có thể phát ra ánh sáng. Điều này khiến giới phê bình không thể bỏ qua.

Dù chưa có định nghĩa rõ ràng nhưng Trong buổi hội thảo, mọi người nhất trí rằng tài liệu web là một thực thể không ảo với những đặc điểm riêng của nó (nhưng nó không có bản chất khác biệt so với tài liệu truy xuất nguồn gốc, # 7873).; n hệ thống). Dịch giả Nguyễn Việt Dũng nhận xét: “Văn học mạng có gì mới? Tất nhiên, tính mới không phải là mô hình sáng tạo, cũng không phải là bản chất của văn học, mà là mô hình tồn tại trong ngắn hạn. Cách tiếp cận và tiếp nhận Nhà văn và cách lưu trữ nó, đây cũng là những đặc điểm riêng của người cầm bút trong “thời đại Internet” Viết văn từng là một công việc đơn độc. Nhấp chuột, tác giả có thể hoàn thành ngay những trang còn dang dở của mình giữa đám đông trên Internet. Những tác phẩm này sẽ nhận được “comment”, là phần bổ sung cho nhận xét của độc giả. Nếu tác giả bị ảnh hưởng bởi nhận xét của độc giả, thì ở một mức độ nào đó Việc hoàn thành tác phẩm sẽ không còn là vấn đề cá nhân nữa, đối diện với thực tế này, nhà văn von Dieppe cho biết, bà rất tôn trọng những đóng góp của độc giả, nhưng có lập trường riêng của bà, để làm nên những tác phẩm còn dang dở. Dư luận cho thấy người viết phải rất dũng cảm để không bị kẹt giữa đường, trong lúc này, Cấn Vân Khánh thú nhận nếu điều đó là hợp lý, cô sẽ “chiều lòng người đọc” qua một bài đăng trên mạng. Các biên tập viên có thể dễ dàng xác định đối tượng và thị hiếu của họ, do đó, văn học trực tuyến thường dễ đọc, dễ hiểu và phổ biến, rõ ràng, công chúng không đồng nghĩa với giá trị nghệ thuật, đây là nguyên nhân khiến người ta nghĩ đến các tác phẩm ra đời qua Internet. Một trong những vấn đề đáng quan tâm là chất lượng và sức sống lâu dài.

Tuy nhiên, theo nhà phê bình Nguyễn Chí Hoan, ảnh hưởng tiêu cực của văn học trực tuyến là không đáng kể so với vai trò của biên tập viên ở Việt Nam hiện nayAnh ấy đã mang nó. Vì cơ hội luôn đi kèm với thách thức. Là một hình thức xuất bản, mạng cho phép các tác giả dễ dàng xuất bản các tác phẩm của riêng mình mà không gặp rắc rối trong việc kiểm duyệt, cấp phép, in ấn như quy trình tạo sách truyền thống. Các nhà văn được tự do bày tỏ ý kiến ​​của mình hơn mà không phải lo lắng rằng người biên tập sẽ bị cô lập khỏi nhà xuất bản. … Nhưng họ phải có lập trường và hiểu rõ về hệ thống tự kiểm tra để không đi chệch khỏi khuôn khổ của tự do. .

Người đọc có thể tự do lựa chọn, thưởng thức tác phẩm miễn phí và đóng góp vào quá trình sáng tác của nhà văn. Nhưng đồng thời, đối mặt với một số lượng lớn các tác phẩm được trộn vàng, họ phải tỉnh táo lựa chọn những mặt hàng thực sự quý giá. Nhà cái lợi dụng người dùng Internet. Như một bộ lọc, nó giúp làm mềm cát để tìm vàng và tìm những thành phần bán chạy nhất để in trên sách. Tuy nhiên, có tìm được đồng vàng mười hay không phụ thuộc phần lớn vào bộ lọc này. Tạo cơ hội mới cho văn học phát triển-nên có lẽ cần phải khảo sát lại nội dung văn học của “cơ hội” này.

Tuyết đang cháy

In: Sách

Lê Quang—— nhưng đồng hương của anh đã bị ám sát. Liên minh Châu Âu cố gắng nhìn thấy ở anh cầu nối giữa Đông và Tây. Phần còn lại của thế giới hy vọng rằng anh có thể tạo ấn tượng cho xã hội Thổ Nhĩ Kỳ. Thổ Nhĩ Kỳ đương đại.

“Tôi chỉ muốn viết một cuốn sách hay”

Cho đến nay, tiêu chí tìm giải Nobel Văn học vẫn chưa được tìm thấy chi tiết, nhưng có một tiêu chí. Ai muốn nhắm mắt cũng phải xem: chính trị. Tất nhiên, nếu xét về thế giới quan và lập trường của tác giả, thì khó có thể giải thích hoàn cảnh của Harold Pinter (Nobel 2005) hay Elfriede Jelinek (2004), và Orhan Pamuk (2006) không phải là ví dụ cuối cùng. Một số người coi thường thành tựu văn học của những người vừa nêu là quá vụng về. Một khía cạnh không thể bỏ qua ở đây cũng là phần giới thiệu thực tế về Pamuk và Snow, đó là một sự hư cấu (tất nhiên!) Làm phân cực thế giới của người đọc. cực.

Tác giả thừa nhận rằng Special Tuye khiến anh không muốn rời tháp ngà. Khi đọc giữa hai dòng này, cần lưu ý rằng tự do ngôn luận ở Thổ Nhĩ Kỳ vẫn còn hiếm vào năm 2002, và đã được cải thiện trong những năm gần đây với những nỗ lực cải cách để gia nhập liên bang. Liên minh Châu Âu. Nhà xuất bản đã xem trước bản thảo của Snow cho luật sư, và thực sự được khuyên là không nên xuất bản nó. Nhưng Tuyết vẫn ra đời dù với 100.000 bản trong đợt đầu tiên của cả nước. Dù muốn hay không, Pamuk hiện phải đối mặt với những kỳ vọng – thường là vượt quá kỳ vọng của chính anh, nhưng đây không phải là lần đầu tiên: anh và Aziz Nassing là những nhà văn đầu tiên ở các nước Hồi giáo công khai chống lại cô. Năm 1995, Salman Rushdie (Salman Rushdie) bản án tàn nhẫn về thơ phú.

Tất nhiên anh ấy đã đoán trước được tình huống này, và Pamuk đã phải trích dẫn lời Standa: “Chính trị trong các tác phẩm văn học giống như việc bắn súng lục giữa các buổi hòa nhạc: ngay cả khi tôi không thể ‘ngu ngốc’, nó rất thô bạo. — Snow

Đáp lại lễ trao giải Nobel, Pamuk nói: & ldquo; Tôi viết cuốn sách này vì tôi muốn mọi người khác, tất cả mọi người trên thế giới biết chúng ta đang sống và tiếp tục sống như thế nào ở Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ. ((Trần Tiễn Cao Đăng). Buộc lòng nghĩ rằng Pamuk đang ám chỉ Snow. Một nhà thơ đến hỏi anh một nụ hôn. Ka nhà thơ sầu muộn và đau khổ của Tuyết khiến độc giả nhớ đến Kraft. Một số nhân vật của Kafka hoặc Dostoyevsky. Của tôi, xinh đẹp và độc thân, tôi bối rối, khóc, tôi không thể đọc hết sách, vì tôi sợ kết thúc giống như tôi Một đoạn tình sâu lắng Thị trấn Kars Sầu cuối Caucasus là sân khấu chính của tuyết. Là một người theo chủ nghĩa vô thần, tôi rất tiếc vì đã không thể thâm nhập hết vào đời sống tâm linh của người Hồi giáo và hiểu hết những xung đột nội tại và xã hội đã xảy ra ở đó. Lịch sử nước ta Không có chuyện xung đột chủng tộc như Rwanda, Nam Tư hay Thổ Nhĩ Kỳ nên tôi đủ thông cảm. Thật đáng thương nhưng tôi biết rằng khi đọc Pamuk, tôi đã có thêm rất nhiều kiến ​​thức và tôi tưởng tượng có một người bạn khác (tôi chưa có bạn này) Anh là một nhà văn có nhiều hy vọng. Cũng như tôi và tất cả độc giả Tuyết, anh không chỉ ghi lại cuộc sống của người Việt Nam mà còn khiến thế giới bên ngoài cảm thấy chân thực và xúc động về quá khứ và hiện tại của Việt Nam. , Bạn và tôi đang sống trong thời đại vội vã và hời hợt. Mỗi ngày chúng ta đều phải vật lộn để kiếm sống và theo đuổi những giá trị khác. Đó là lý do tại sao chỉ có một Ban Ninh viết về nỗi đau chiến tranh, hoặc những vị tướng về hưu Tôi chỉ có thể dành trọn trái tim mình cho một Nguyễn Huy Thiệp? Người cao tuổi mà tôi vô cùng kính trọng luôn chủ trương dịch thuật.Sách là một loại giao tiếp văn hóa, có nghĩa là tìm ra những gì ẩn giấu giữa hai dòng văn bản. Hắn đương nhiên đúng, bởi vì nếu không, dịch cơ sẽ quá tàn nhẫn, trước mắt có thể giao trách nhiệm này cho máy tính. Thấy vậy, Tuyết khó dịch. Ở đây, tôi sẽ không chỉ ra những khó khăn về ngôn ngữ mà tự động gặp phải mỗi khi thực hiện bản dịch. Mọi người háo hức sử dụng tệp đính kèm này. Ông buộc các nhân vật của mình phải lặp lại cách suy nghĩ và hành vi của họ, có lẽ để đại diện cho họ một cách rõ ràng. Đây là một kiểu nhào lộn: hồi hộp, hào hứng nhưng rất nguy hiểm, vì xử lý không đúng cách có thể trở nên nhàm chán. Bản dịch là vô hình, và người dịch phải chịu gánh nặng sẽ không gián tiếp gây ra sự nhàm chán.

Khó khăn lớn nhất là thể hiện bầu không khí niềm tin bao trùm toàn cảnh. Nó bắt đầu với những chi tiết như tính cách của một thiếu niên, lối suy nghĩ của học sinh (cởi khăn cũng tệ như cởi áo ngoài đường), nhưng không kết thúc bằng việc xả đạn ở trường. Trường học linh mục. Ngoài ra, làm thế nào để độc giả từ một nền văn hóa khác hiểu nhưng không muốn giải thích? Bản dịch không phải là lời giải thích cuối cùng? Như tôi đã nói, Snow là một cuốn tiểu thuyết về chính trị trong nước. Pamuk có cảm giác không ổn định khi viết, đặc biệt là khi nói đến xung đột sắc tộc với người Armenia hoặc người Kurd. Sự bất ổn này khiến ngôn ngữ lỏng lẻo và buộc người đọc (và người dịch) phải thay đổi liên tục. Nhưng đừng làm cho việc “di chuyển” quá khó khăn như phiên bản tiếng Anh. Giải pháp cho một ngôn ngữ thứ hai không phải là một vấn đề, nhưng không ai trong chúng ta hiểu đầy đủ về ngôn ngữ này.Do đó, nghiêm túc mà nói, chúng ta hãy bám sát bản dịch hiện có. Nếu chúng ta ghi nhớ điều này, có hai Pamuk đã viết cuốn sách này. Nàng thơ Pamuk (hóa thân thành Ka), có tư tưởng điển hình của một nhà thơ, mất đi tình cũ, mới có thể đắm say trong thơ. Một Pamuk khác thích triết học và giải thích. Vì vậy, có hai ngôn ngữ, hai ngôn ngữ rất khác nhau. Mặc dù nhà thơ Ka rất trôi chảy và dễ hiểu, theo nghĩa đen, phần còn lại của cuốn sách khá thông minh và khó đọc. Sai lầm của người viết hay trở ngại của người đọc?

Cầu nối giữa Đông và Tây?

Pamuk sinh ra trong một gia đình tư sản và là sản phẩm của hệ tư tưởng Atatürk. Sự huy hoàng của hệ tư tưởng Atatürk đã thiết lập một chính sách nhắm vào lợi ích của người dân nước Cộng hòa hơn là của người dân. Một giai cấp, và ý chí đánh bại chế độ thần quyền. Điều đáng chú ý là vùng đất Pamuk ngày nay chỉ toàn là Đế chế Ottoman từng cai trị châu Âu và chưa xem lại lịch sử, Thổ Nhĩ Kỳ không chỉ có Istanbul và Ankara. Ở Thổ Nhĩ Kỳ, tôi cố tình tránh hai thành phố này, vì biết trước rằng họ chỉ đại diện cho giới thượng lưu châu Âu (ngay cả khi họ đang hoạt động), và những gì tôi nhìn thấy tận mắt khiến tôi cảm thấy rất thoải mái. Ngạc nhiên: Liệu đất nước này có trở thành một phần của Liên minh châu Âu?

Nhà văn Orhan Pamuk.

Hãy đăng một nhận xét chủ quan. Tôi biết nhiều người bạn Thổ Nhĩ Kỳ. Ấn tượng đầu tiên của họ là xinh đẹp, cao ráo, lịch lãm, mang dáng dấp Châu Âu nhưng lại mang nét Ba Tư. Trong trí tưởng tượng khá mơ hồ của tôi, chúng đến trực tiếp từ “1001 đêm”. Thật không may, ấn tượng thứ hai cũng liên quan đến Sheherazade: Ở một quốc gia, phụ nữ hiếm khi được trao rất ít quyền. Khi tôi đến Thổ Nhĩ Kỳ, ấn tượng thứ ba của tôi là: Tôi có thể đã không đánh giá sai.

Là một thành viên của giới trí thức, Pamuk đã đáp lại ý tưởng gia nhập EU bởi vì anh ấy biết từ cô ấy rằng chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ đã Bổn phận nỗ lực hết mìnhDễ thương; ch vừa mới bắt đầu. Riêng về chính trị, Snow không phải là một bức tranh toàn cảnh về xã hội Thổ Nhĩ Kỳ, mà lao vào khúc ruột của quá khứ huy hoàng và hiện thực quanh co của những người như Pamuk. Đặc biệt ở Việt Nam thì chưa ai biết. Giải Nobel chỉ là một sự đảm bảo “thêm” cho những độc giả “dũng cảm” giành được 400 trang sách. Xung đột đẫm máu giữa các phe phái sùng đạo và thế tục, dân chủ và quân phiệt, chủ nghĩa dân tộc và “phương Tây hóa”… Đáng tiếc, nó sẽ trở thành chướng ngại vật trên con đường tới EU của Erdogan. — Nhưng, như đã nói, ngay cả khi bối cảnh chính trị hiện tại bị bỏ qua, Pamuk vẫn là một phước lành lớn cho “Tinh thần Thế giới”, và được Hội đồng Giải thưởng Hòa bình Làng xuất bản công nhận vào năm 2005 trong Tạp chí Đức Đó là cách nhìn đối với các số liệu song song, có lẽ từ thế kỷ 19! Khi đọc Balzac, Stendhal hay Flaubert, người ta chợt hiểu về tình hình Paris hay Pháp. Dostoevsky đã mở ra cho chúng ta cái nhìn về xã hội dưới sự cai trị của Sa hoàng và những giọt nước mắt nội tâm của tâm hồn Nga trước những “giá trị châu Âu” gây hoài niệm, day dứt và thậm chí là ghê tởm. Đọc Pamuk một cách kiên trì và nhẫn nại, bạn sẽ hiểu và trân trọng đất nước phức tạp với bề dày lịch sử và văn hóa.

“Tôi chỉ muốn viết một cuốn sách hay”. Cảm ơn bạn, Pamuk sẽ cho độc giả ở đất nước này biết rằng Thổ Nhĩ Kỳ không chỉ là một Aziz Nesin được kính trọng.

100 tác phẩm văn học đương đại hay nhất

In: Sách

Haring (HàLinh)

Dướiđylàcáctácphẩmcụthụ:

1. The Road, Cormac McCarthy (2006) 2. Harry Potter and the Goblet of Fire, J.K. Rowling (2000) 3. Người yêu dấu, Toni Morrison (1987) 4. Liar Club, Mary Karr (1995) 5. Hiệp hội Mục vụ Hoa Kỳ, Philip Roth (1997) 6. Mystic River, Dennis Lehane (2001) 7. Mao Spiegelman (Art Spiegelman) (1986/1991) 8. Một số câu chuyện, Alice Munro (1996) 9. Cold Mountain, Charles Frazier (1997) 10 .Chronicles of Birds, Haruki Murakami (1997) 11. Trong không khí loãng, Jon Krakauer (1997) 12. Blindness, Jose Saramago (1998) 13. Watcher, Allen · Moore và Dave Gibbons (1986-87) 14. Blackwater, Joyce Carroll Oates (1992) 15. Tác phẩm đau lòng của thiên tài tuyệt vời, Dave Eggers (2000 16. Chuyện người hầu, Margaret Atwood (Margaret Atwood) (1986) 17. Tình yêu trong thời kỳ dịch tả, Gabriel García Márquez (1988) 18. Con thỏ nghỉ ngơi, John · Updike (1990) 19. Beauty, Zadie Smith (2005) 20. Tạp chí Bridget Jones, Helen Fielding (1998) 21. Về văn bản, Stephen Ki ng (2000) 22. Cuộc đời tuyệt vời của Oscar Wao, Junot Díaz (2007) 23. Ghost Trail, Pat Barker (1996) 24. The Lonely Pigeon, Larry McMurtry (1985) 25. The Joy Luck Club, Amy Tan (1989) 26. William Gibson (1984) 27. Quyền sở hữu, Byatt (1990) 28. Nue, David Sedaris (1997) 29. Bell Canto, Anne Pachter (2001) 30. Câu chuyện tình huống, Kate Atkinson (2004) 31. Họ mặc gì, Tim O’Brien (1990) 32. Hãy tách các vùng nước ra, Chi nhánh Taylor (1988) 33. Năm Tư Duy Phép Thuật, Joan Didion (Joan Didion) (2005) 34. Beautiful Bones, Alice Sebold (2002) 35. Beauty Line, Alan Howe Linhurst (2004) 36. Angela’s Ashes, Frank McCourt (1996) 37. Persepolis, Mary Satra (2003) 38. American Birds, Lori Moore (1998) 39. Người giải thích bệnh, Jupa Lahiri (2000) 40. “Vật chất tối” của ông, Philip Pullman (Philip Pullman, 1995-2000). 41. Nhà trên phố Mango, Sandra Cisneros (1984). 42. La Brava, Elmore Leonard (Elmore Leonard, 1983). 43. Thời gian vay mượn, Paul Monette, (1988) 44. (1991) 45. E va Luna, Isabel Allende (1988) 46. Sandman, Neil Gaiman (1988-1996) 47. World Exposition, EL Doctorow (1985) 48. Poison Wood Bible, Barbara Kingsolver (1998) 49. Lập bảng Division, Richard Price (1992) 50. Corrections, Jonathan Franzen (2001) 51. The Journalist and the Murderer, Janet Malcom (1990) 52. Waiting to Expire, Terry McMillan (1992) 53. Cavalier and Clay’s Adventure Surprise, Michael Sha Bang (2000) 54. Jimmy Corrigan, Chris Weir (2000) 55. Glass Castle, Janet’s Wall (2006) 56. Người quản lý ca đêm, John Le Carré (1993) 57. Niềm vui của sự phù phiếm, Tom Wolf (1987) 58. Boyle (2003) 59. Crick? Clark (Krak!), Edwidge Danticat (1995) 60. Nick và Dimed, Barbara Ehrenreich (2001) 61. Money, Martin Amis (1985) 62. Chuyến tàu đến Memphis, Peter Gulanick (1994) 63. Pastoria, George Sanders (2000)) 64. Thế giới ngầm, Don DeLillo (1997) 65. Người cho đi, Lois Lowry (1993) 66. Những điều thú vị tôi sẽ không bao giờ làm nữa, David Foster Wallace (1997) 67. Người chạy diều, Khaled Hosseini (2003) 68. Ngôi nhà vui nhộn, Alison Bechdel (2006) 69. Những câu chuyện bí mật, Donna Tartt (1992) 70. Cloud Atlas, David Mitchell (2004) 71. Tinh thần bắt bạn và sự sụp đổ của bạn, Ann Fadiman (1997) 72 Dogs at night, Mark Haddon (2003) 73. Owen Meany’s Prayer, John Irving (1989) 74. Friday Night Light, HG Bissinger (1990) 75. Nhà thờ lớn, Raymond Carver (1983) 76. Eye Cái nhìn của nỗi đau, Ruth Rendell (1998) 77. Những tàn tích hàng ngày, Kazuo Ishiguro (1989) 78. Ăn kiêng, cầu nguyện, tình yêu, Elizabeth Gilbert (2006) 79. Điểm tới hạn, Malcolm Gladwell (2000) 80. Đèn sáng, thành phố lớn, Jay McKinney (1 984) 81. Chống chơi game, Susan Faludi (1991) 82. Atonement, Ian McEwan (2002) 83. Stone Diary, Carol Shields (1994) 84. Halls, Louis Sachar (1998) 85. Gilead, Marilynne Robinson (2004) 86. And Band Performance, Randy Shields (1987) 87. Ruins, Scott Smith (2006) 88. High Fidelity, Nick · Hornby (1995) 89. Ảnh chụp cận cảnh, Annie Proulx (1999) 90. , Ruth Reichl (2001) 91. Random Family, Adrian Nicole LeBlanc (2003) 92. Được cho là vô tội, Scott · Scott Turow (1987) 93. Thousand acres, Jane Smiley (1991) 94. Fast Food Country, Eric Schlosser (2001) 95 Catskill Falls, Allegra Goodman (1998) 96. Mật mã Da Vinci, Dan Brown (2003) 97. Con trai của Chúa Giêsu, Dennis Johnson (1992) 98. The Predator’s Ball, Connie Brooke (1988) 99. Practical Magic, Alice Hoffman (1995) 100. America (sách này), Jon Stewart / Daily Show (2004) – (Nguồn: EW)

Haruki Murakami yêu thích dịch thuật, ở tuổi 71

In: Sách

Theo đài truyền hình Sun TV, ngày 8/10, tại tỉnh Hyogo – nơi tập trung các nhà văn trung học, công chúng đã tập trung tại một nhà hàng để xem trực tuyến giải Nobel Văn học. Khi Haruki Murakami “bỏ lỡ vinh dự này một lần nữa”, ai đó đã rơi nước mắt. Mặc dù vậy, Nobel văn học dường như không phải là mối quan tâm lớn nhất của tác giả. Anh cho biết anh tập trung vào việc dịch sách và dẫn chương trình radio. Trong bản dịch, ông đã dịch “Linh hồn là một thợ săn cô đơn” vừa được xuất bản tại Nhật Bản. . Video: Sun TV .

Đầu tháng 10, Murakami nói về quá trình dịch cuốn sách trong thời kỳ Nhật Bản. Ở tuổi 70, ông vui vẻ làm nghề phiên dịch cho biết: “Niềm hạnh phúc lớn nhất của tôi là có thể dịch những tác phẩm mình thích”. Rừng Nauy (Norwegian Wood) đầy tâm huyết với bản dịch của tác giả và háo hức chờ đợi sự hưởng ứng của các bạn trẻ.

Khác với cuốn sách do anh dịch (môi trường thành thị), “Trái tim là thợ săn cô đơn” lấy bối cảnh tại một thị trấn nhỏ, mang màu sắc hiện thực và tôn giáo. Tác phẩm xoay quanh 6 số phận, trong đó có bác sĩ da đen, câm điếc Copeland bị tẩy chay vì chênh lệch kiến ​​thức, hay cư dân mới Jake Blount – luôn cảm thấy lạc lõng. Anh nói: “Câu chuyện kết thúc không lối thoát, nhưng có dư vị, và niềm tin sưởi ấm tôi.” Người viết rất ấn tượng với cách McCullers lột tả tâm hồn nhân vật. Mỗi người trong tác phẩm đều có nỗi đau riêng, cùng nhau xoa dịu phần nào nỗi cô đơn.

Takashi Murakami ca ngợi McCullers (1917-1967) là một thiên tài với con mắt tinh tường. Cuốn sách này được xuất bản năm 23 tuổi. “The Heart is a Lonely Hunter” được xuất bản vào năm 1940 và được viết bằng một thứ ngôn ngữ cổ khó có thể dịch hoàn toàn sang các ngôn ngữ khác. Vì vậy, Murakami đã cố gắng sử dụng các cách diễn đạt khác nhau để có được hiệu quả dịch thuật tốt nhất.

Phiên bản tiếng Nhật của “Heart is a Lonely Hunter” được phát hành vào tháng 8. Carson McCullers đã xuất bản các tác phẩm trong năm nay. Năm 1940. Tên của dịch giả Haruki Murakami được khắc trên trang bìa. Ảnh: The Japan Times-Murakami nói rằng ông cam kết dịch vì độc giả Nhật Bản không quan tâm đến tác phẩm kinh điển thế giới. Ông là dịch giả của “The Catcher in the Rye” do JD Salinger viết, “The Long Goodbye of Raymond Chandler” và Truman Capote in Tiffany (Tiffany) Bữa sáng. Ông khen ngợi nhà văn Mỹ William Faulkner-chú ý đến chi tiết và góc nhìn độc đáo. Ông nhắc F. Scott Fitzgerald, cha đẻ của “The Great Gatsby”, rằng cảm hứng của ông khi làm việc với những từ ngữ đầy cảm xúc phản ánh vẻ đẹp của thời đại. Theo báo cáo của Openculture, Murakami đã dịch “The Great Gatsby” ở tuổi 60, khi ông nghĩ rằng mình đủ kỹ năng để chuyển tải ý nghĩa tương đối của bản gốc. Anh cẩn thận xem xét từng chữ, từng hình ảnh thông thường và tự hỏi mình sẽ viết như thế nào nếu đó là Fitzgerald. Nhà văn nói: “Tôi hiểu câu chuyện này thông qua việc đọc, và trong khi dịch, tôi đã đánh thức được sự bí ẩn của ngôn từ.” Ông đã so sánh nguyên bản văn học Nga, Mỹ và Nhật Bản. Sau đó, anh học cách người phiên dịch vận dụng ngôn ngữ để chuyển tải các câu một cách chính xác và trôi chảy. Tác giả đã viết bảy trang của cuốn sách đầu tiên bằng tiếng Anh và sau đó dịch nó sang tiếng mẹ đẻ của mình, tránh những từ không cần thiết trong cách viết truyền thống của Nhật Bản. Trên trang web của TLS, tác giả tiết lộ rằng trong quá trình dịch thuật, anh đã trải nghiệm quá trình thoải mái “ngâm mình trong suối nước nóng ngày mưa”.

Haruki Murakami (Haruki Murakami) sinh năm 1949, anh luôn đưa vợ đi đọc bản. Đối với bản nháp đầu tiên, cô nhận xét về 200 ghi chú. Tác giả từng nói trên Newyoker: “Tôi đang cố gắng viết làm sao để ít nhận được lời khuyên nhất từ ​​vợ mình.” Ảnh: Elena Seibert

Haruki Murakami là một trong những nhà văn nổi tiếng nhất của văn học đương đại Nhật Bản. Các tác phẩm tiêu biểu của anh bao gồm: “Biên giới phía Nam”, “Phía Tây mặt trời” (1992), “Vệ tinh tình nhân” (1999), “Kafka Coastal” (2002), “Quý 1 năm 2009”. Sau khi được biết đến với tác phẩm Rừng Nauy ở tuổi 38, tác phẩm mang tên “văn hóa nhạc pop” của anh đã tạo nên “cơn sốt” ở Nhật Bản và trên thế giới. Ông đã giành được giải thưởng Jerusalem Award-2007 Người viết về các vấn đề tự do, hòa bình và xã hội. Tác phẩm mới nhất của anh là “Killing Commendatore” (Killing Commendatore) được phát hành vào năm 2017. Vào tháng 5, anh hiện đang xuất bản một bài viết trên “Stay Home Special” để động viên người nghe vượt qua khó khăndịch. Nó cũng có một chương trình phát thanh Murakami thường xuyên, đã hoạt động được hai năm. Tác giả không thích đứng trước đám đông mà điều hành đài phát thanh vì muốn giữ liên lạc với khán giả và chia sẻ sở thích âm nhạc của mình.

Quỳnh Quyên (theo Japantimes)

Nhật Chiêuécrit là một tập thơ của He Xuanxiang

In: Sách

Khách mời của hội nghị là Tiến sĩ Bùi Trân Phượng. Nhật Chiêu cho biết ông đã sử dụng lý thuyết văn học và quan điểm triết học của Gaston Bachelard (1884-1962) để đưa ra quan điểm của mình về tác phẩm “Nữ hoàng thơ ca”.

Bachellard đã viết hai cuốn sách về trái đất. Nhiều nhà văn lớn trên thế giới liên kết hang động với hình tượng phụ nữ. Các nhà triết học Pháp chủ trương trí tưởng tượng của con người dựa trên bốn yếu tố lửa, nước, đất và không khí, và khám phá ra mối quan hệ giữa bốn yếu tố nguyên thủy với các cấu trúc vật chất và hư cấu. -Nhiều tác phẩm của He Xuanhong như Trống Kẽm, Đèo Badoi, Hang Cắc Cớ, Đu quay, v.v … đều sử dụng những hình ảnh ẩn dụ về thiên nhiên dưới góc nhìn “nam tử hán” để thay thế đôi mắt của con người. , Nhấn mạnh vai trò quan trọng của phụ nữ trong xã hội.

Nhật Chiêu có một bài viết ngắn trên trang cá nhân của mình:

“Những bài thơ của He Xxiang được viết như thể đang khôi phục lại hình ảnh của người phụ nữ. Cơ sở xã hội và tự nhiên, do đó tạo ra những người phụ nữ nguyên thủy và hiện đại hơn Bản sắc mở đường, bao gồm đặt phụ nữ vào cốt lõi của trí tuệ. Thần, trống kẽm, đèo, hồ, xô, thuyền, trống thuyền … Đây là thơ ca của những nguyên lý trí tuệ (âm dương) và phép biện chứng cởi mở, và do đó ẩn chứa những bí mật. Lái xe giấu mặt chỉ là một trò chơi hời hợt, không cần hay phải nói.

Đây là cách nhìn của “phụ nữ” về cuộc sống, không phải là cách nhìn của “phụ nữ” về cuộc sống. SP không liên quan gì đến việc mưu cầu danh lợi và “làm trai” trong cuộc đời này. Không có gì cả. “Khát vọng được làm bà.” Chỉ khao khát cuộc sống tự nhiên của phụ nữ, chỉ có tình yêu, sự tự nhiên, khát khao được yêu và được yêu, Baudelaire cho rằng trong mỗi chúng ta đều có đàn ông, đàn bà và trẻ em, nhưng dường như ở phụ nữ nhiều hơn. Điều quan trọng, có thể thấy trong những bài thơ của Xu ồxing, hình ảnh người phụ nữ được hát một cách hào sảng. Không những thế, còn phải táo bạo. Khoan dung và mang đậm bản chất “. ——Xu ồxing (1772-1822) là nhà thơ còn gây tranh cãi giữa nhiều học giả. Di sản văn học của cô chủ yếu được viết bằng chữ. Biệt danh của nhà thơ Xantiu là “Nữ hoàng Nôm LaPoésie”. Các tác phẩm của ông thể hiện tiếng nói của thời đại ông với đặc điểm “thanh thoát và thế tục”.

Louise Gluck-Nhà thơ của Nỗi đau

In: Sách

Vào ngày 8 tháng 10, khi Viện Hàn lâm Thụy Điển trao giải Nobel Văn học cho Louise Glück, cô ấy “có một giọng thơ không thể phủ nhận, và vẻ đẹp khắc nghiệt của cô ấy làm cho sự sống còn cá nhân trở nên phổ biến.” Cô mô tả những trải nghiệm cá nhân của mình liên quan đến lịch sử, thiên nhiên và cuộc sống hiện đại bằng ngôn ngữ thơ.

Louise Glück không nổi tiếng trên thế giới, nhưng với cộng đồng nói tiếng Anh và độc giả ở Hoa Kỳ, cô ấy là một nhà thơ đương đại phi thường. Nhà thơ người Anh Fiona Sampson nói trên tờ The Guardian rằng cô rất vui khi biết rằng Louise Glück đã giành được giải thưởng. Fiona Sampson đã đọc và nghiên cứu các bài thơ của đồng nghiệp trong hơn 20 năm, và đã chứng kiến ​​sự phát triển không ngừng trong phong cách sáng tác của Louise Glück, từ các tác phẩm xoay quanh trải nghiệm cá nhân đến các bài thơ về cơ thể, và sau đó Tô đậm tính triết lý nhân sinh. . .

Louise Glück (Louise Glück) sinh ra ở New York vào năm 1943, và đã tạo ra mười hai tuyển tập thơ, một tiểu luận về thơ. Nhiếp ảnh: Pw.

Theo trường đại học, cô đã được ca ngợi là một trong những nhà thơ xuất sắc của văn học đương đại Hoa Kỳ kể từ bài thơ đầu tiên của cô “Firstborn” (Đứa con đầu lòng, năm 1968), viết về tuổi thơ, gia đình. Câu chuyện của cuộc sống. House on Marshland-Tập thơ thứ hai xuất bản năm 1975 là lời đáp của ông đối với các học giả Mỹ, những người đã bày tỏ nghi ngờ về nó vào thời điểm đó: “Có thể thấy trước được đánh giá của Louise Glück trong tương lai”. Chủ đề của tác phẩm này giống với chủ đề “Firstborn”, nhưng cách thể hiện ẩn dụ của nó để lại ấn tượng sâu sắc. Lần này, sự cô đơn của Louise Glück được kèm theo rất nhiều từ. Cô đã viết trong bài báo “Gretel in the Darkness”: “Night, I don’t you want you to ôm me / but you are not there” (Tôi quay lại vài đêm và để bạn ôm tôi / nhưng bạn không còn ở đó nữa). Louise Glück đã nói về nhiều giấc mơ, do đó lột tả cảm giác cô đơn và mơ hồ. Lời thoại của ca khúc Brennende Liebe là: “Đêm qua / Anh mơ thấy em chưa về”.

Bài thơ “Iris in the Wild” đoạt giải Pulitzer năm 1993. Nhiếp ảnh: AbeBooks ..- Bản chất con người là chủ đề trong tác phẩm của Louise Glück, bắt nguồn từ cuộc đời đầy biến cố của bà. Glück mắc chứng biếng ăn sinh lý từ khi học trung học, trải qua hai lần đổ vỡ trong hôn nhân, mất nhà cửa, tài sản, bị lửa thiêu rụi. Chủ tịch Ủy ban Nobel Anders Olsson (Anders Olsson) cho biết. Cô đã viết về nỗi tuyệt vọng – người đoạt giải Pulitzer trong “The Wild Iris” năm 1992: “Bạn có biết tôi là gì và tôi sống như thế nào không? Bạn biết tuyệt vọng là gì, mùa đông Nó nên có ý nghĩa với bạn “(tôi đã sống như thế nào, bạn có biết không? Khi bạn hiểu tuyệt vọng là gì, mùa đông có ý nghĩa với bạn)

tuyệt vọng không phải là kết thúc, mà là hy vọng, sự đổi mới, khái niệm này là của cô Thể hiện ở khía cạnh khác:

“Tôi không ngờ mình còn sống sót, trái đất đã hủy hoại tôi. Tôi không ngờ khi tỉnh dậy và cảm thấy trên mặt đất ẩm ướt cơ thể sẽ phản ứng trở lại, nhớ lại sau rất lâu Làm sao lại mở ra trong cái lạnh đầu xuân … “

” Không ngờ mình sống sót khi đất trời quấn chặt lấy mình không muốn dậy. Nghe đất ẩm quấn lấy mình. Khi xuân về Sau một thời gian dài, cô nói rằng nhiều nhà văn trung niên sợ viết những câu chuyện về cái chết, nhưng cô đã tìm thấy một niềm hạnh phúc rùng rợn khi nghĩ về cái chết của cha anh đã truyền cảm hứng cho Glück tạo ra Ararat (1990) thơ. Nhà phê bình Dwight Garner gọi tác phẩm này là “tập thơ tàn khốc và bi thảm nhất của Hoa Kỳ trong 25 năm.” Trong tác phẩm này, những độc giả đồng cảm của bà đã thể hiện một cách nghệ thuật Nỗi đau về cái chết sớm của cha mẹ, sự ganh đua giữa chị em và mâu thuẫn với con cái. Cuộc khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001 đã thúc đẩy bà viết “Những bài thơ tháng Mười”. Trong đó, bà dựa vào thần thoại Hy Lạp để nói về sự hãm hại của tác giả Hà. Harper Lee nhận xét cuốn sách phá vỡ ý niệm lãng mạn về mùa thu, nhưng lại khiến người đọc rơi nước mắt vì nhìn thẳng vào nỗi đau khổ của thế giới. Cậu con trai chôn ảnh cha mình vào một buổi chiều tháng 10, được gợi nhớ bởi gốc bí ngô héo. Cảm xúc của con người đi xuống Nhưng sau tất cả, cô lại một lần nữa thắp lên hy vọng về những điều tốt đẹp: “Anh sẽ không phụ tình, tình yêu cũng không phụ. “(Bạn sẽ không được tha thứ, nhưng tình yêu của bạn sẽ được tha thứ.) – Thần thoại Hy Lạp là nguồn cảm hứng tuyệt vời cho thơ của Louise Glück. Cô ấy không ca ngợi những vị thần quyền năng như Zeus hay Poseidon, nhưng Đạo diễn bi kịch của các anh hùng hoặcNhững người phụ nữ trong câu chuyện. Le Triomphe d’Achille (Triomphe d’Achille, 1985) có nhịp thơ chậm rãi ngắt nhịp một cách ngẫu hứng. Cô chọn Achilles, chiến binh Hy Lạp vĩ đại nhất, như một phép ẩn dụ cho sự yếu đuối của con người. Achilles có cơ thể bất tử, ngoại trừ phần gót chân. Người ta coi ông đã chết như một vị thần yếu trong cuộc chiến thành Troia. Trong lều, Achilles phải chịu cực hình, các vị thần coi chàng như người chết và nạn nhân. Nghệ thuật và Nhân văn của Nhà Trắng. Ảnh: AP .—— Chủ nghĩa nữ quyền đã được đưa vào nhiều tác phẩm của Louise Glück, trong đó nổi tiếng nhất là “Laughing at Oranges”. Cô ấy khai rằng cô ấy ghét tình dục và so sánh tình dục với một bông hoa cam giả giống như một bông hoa dại có hương thơm ngọt ngào, một quả giống như cam nhưng không thể ăn được. Đối với các nhà thơ, tình dục không giải quyết được vấn đề gì, nhưng lại sinh ra một ảo ảnh về sự quyến luyến, giống như mùi buồn ngủ của những trái cam giả. Nó kể về bi kịch của Nữ hoàng Dido bị phản bội bởi anh hùng Aeneas, Persephone – con gái của Zeus và Demeter, nữ thần nông nghiệp bị bắt cóc bởi Hellheads, hoặc một nhạc sĩ Vợ của Orpheus đã cố gắng đưa cô trở lại địa ngục, nhưng không thành công. Những người đã bị trừng phạt, bị từ chối hoặc bị phản bội là nguồn cảm hứng xuyên suốt tác phẩm, thể hiện sự ủng hộ đối với phụ nữ và tượng trưng cho nỗi đau.

Năm 2015, Louise Glück được cựu Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama trao Giải thưởng Nghệ thuật và Nhân văn Quốc gia. Cô cũng đã giành được Giải thưởng Pulitzer Sách Quốc gia của Hoa Kỳ. Về vấn đề viết lách, nhà thơ từng nói trên tờ “Washington Square Review”: “Một điều tôi muốn nhắn nhủ với người viết là đừng lặp lại chính mình”.

Giải Nobel Văn học có thể được trao cho các nhà văn nữ

In: Sách

Theo báo cáo của “Guardian”, Viện Hàn lâm Khoa học Thụy Điển sẽ là một lựa chọn an toàn vì Peter Handek, người hai lần vô địch năm ngoái, đã bị tẩy chay. Tác giả người Áo công khai ủng hộ cựu Tổng thống Nam Tư Slobodan Milosevic (Slobodan Milosevic), người bị buộc tội diệt chủng, tội ác chống lại loài người và tội ác chiến tranh trong các cuộc xung đột đẫm máu ở Bosnia, Croatia và Kosovo vào những năm 1990 Trong số 66 lượt đếm.

Björn Wiman, biên tập viên văn hóa của tờ báo Thụy Điển “Dagens Nyheter”, nói rằng làn sóng phản đối Peter Handek đã gây ra một cuộc khủng hoảng trong trường đại học. Ông nói: “Nhiều khả năng họ sẽ trao giải cho Peter Handke, một nhà văn không đến từ châu Âu và có quan điểm chính trị và tư tưởng trái ngược nhau.” Nhà văn người Jamaica Kincaid. Ảnh: “The New York Times” -Björn Wiman đã đề cử Jamaica Kincaid là đề cử hay nhất năm nay cho các tiểu thuyết “The Autobiography of My Mother” và “Mr. Porter”. Bà 71 tuổi và là người Mỹ gốc Antigua. Cô sinh ra trong một gia đình nghèo được hình thành bởi hệ thống giáo dục thuộc địa Anh, và các tác phẩm của cô gần gũi với người lao động. Nhà văn Canada Anne Carson cũng được Björn Wiman đánh giá cao, các tác phẩm, lý thuyết phê bình, tiểu thuyết và vở kịch của ông đều rất có giá trị. Đặt cược rằng một cái tên quen thuộc sẽ thắng. Maryse Condé, Lyudmila Ulitskaya và Haruki Murakami dẫn đầu với tỷ lệ cược 5/1 (một ăn năm), 6/1 (một ăn sáu) và 7/1 (một ăn bảy). Kể từ năm 2018, đã có nhiều vụ bê bối trong giới Nobel văn học. Chồng của nhà thơ Katarina Frostenson, Jean-Claude Arnault, từng là thành viên quan trọng của Hội đồng Viện Hàn lâm Khoa học Thụy Điển và bị cáo buộc hàng loạt vụ lạm dụng tình dục phụ nữ. Ngoài ra, kể từ năm 1996, ông đã bảy lần tiết lộ tên của những người chiến thắng. Jean-Claude và vợ điều hành một câu lạc bộ văn hóa tư nhân dưới sự tài trợ của học viện. Ông không phải là thành viên của xã hội, nhưng duy trì mối quan hệ chặt chẽ với tổ chức và là một nhân vật xuất chúng trong văn học Stockholm.

Vụ bê bối khiến hội đồng nội bộ của Viện Hàn lâm Thụy Điển tức giận. Tám trong số 18 thành viên đã từ chức hoặc từ chối tham gia các hoạt động của viện để phản đối quyết định không sa thải nhà thơ Catarina Frottensen. Do ít nhất 12 thành viên phải tham gia bỏ phiếu cho các sự kiện quan trọng của Viện nên giải Nobel Văn học 2018 đã bị hoãn lại. Vào đầu tháng 7 năm 2018, một nhóm hơn 100 nhà văn, diễn viên, nhà báo và nhà văn hóa Thụy Điển đã công bố lễ khai mạc Giải Văn học Mới thay thế cho Giải Nobel 2018. Maryse Condé, một nhà văn đến từ vùng Guadeloupe, rất vinh dự.

Viện Hàn lâm Khoa học Thụy Điển được thành lập vào năm 1786 bởi Vua Gustav III. Theo nguyện vọng của cha đỡ đầu Alfred Nobel, trường đại học quyết định trao giải Nobel Văn học hàng năm. Các thành viên của hội đồng do Quốc vương Thụy Điển bầu trực tiếp và có nhiệm kỳ suốt đời.